Can chi của năm, tháng, ngày được tính như thế nào?
Can chi là gì và vì sao chỉ có 60 tổ hợp
Can gồm 10 Thiên can: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý. Chi gồm 12 Địa chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.
Cách ghép là một can đi kèm một chi theo thứ tự, can chạy vòng 10, chi chạy vòng 12. Vì 10 và 12 chỉ gặp lại nhau sau 60 bước, nên có đúng 60 tổ hợp khác nhau rồi quay về ban đầu. Đó là vòng 60 mà người ta vẫn gọi là lục thập hoa giáp.
Một chi tiết dễ nhầm: không phải can nào cũng ghép được với chi nào. Các tổ hợp trong thực tế luôn cùng chẵn hoặc cùng lẻ theo vị trí, nên bạn sẽ không bao giờ gặp "Giáp Sửu" hay "Ất Tý". Hiểu điều này giúp bạn kiểm tra nhanh một kết quả: nếu can và chi lệch tính chẵn lẻ, chắc chắn có chỗ sai.
Can chi của năm
Quy ước thường dùng: năm thứ 4 công nguyên là năm Giáp Tý. Từ đó, muốn tìm can chi của một năm dương lịch, bạn lấy năm trừ 4, rồi chia lấy dư cho 10 để ra can và chia lấy dư cho 12 để ra chi. Số dư 0 ứng với can đầu tiên (Giáp) và chi đầu tiên (Tý).
Ví dụ với năm 2025:
- 2025 − 4 = 2021
- 2021 chia 10 dư 1, tức can thứ hai: Ất
- 2021 chia 12 dư 5, tức chi thứ sáu: Tỵ
- Kết quả: năm 2025 là năm Ất Tỵ
Lưu ý quan trọng: năm can chi không đổi vào ngày 1 tháng 1 dương lịch mà đổi vào ngày đầu năm âm lịch. Lấy ví dụ một ngày 15 tháng 1 năm 2025. Nếu ngày đó còn nằm trước Tết Nguyên đán, can chi gắn với nó vẫn là can chi của năm cũ, tức Giáp Thìn, dù trên tờ lịch dương đã sang năm mới. Đây là chỗ nhiều người tra sai nhất.
Can chi của tháng
Chi của tháng đi theo thứ tự cố định: tháng giêng là Dần, tháng hai là Mão, tháng ba là Thìn, tháng tư là Tỵ, tháng năm là Ngọ, tháng sáu là Mùi, tháng bảy là Thân, tháng tám là Dậu, tháng chín là Tuất, tháng mười là Hợi, tháng mười một là Tý, tháng chạp là Sửu.
Can của tháng thì phụ thuộc vào can của năm, theo quy tắc thường gọi là ngũ hổ độn:
- Năm Giáp hoặc Kỷ: tháng giêng là Bính Dần
- Năm Ất hoặc Canh: tháng giêng là Mậu Dần
- Năm Bính hoặc Tân: tháng giêng là Canh Dần
- Năm Đinh hoặc Nhâm: tháng giêng là Nhâm Dần
- Năm Mậu hoặc Quý: tháng giêng là Giáp Dần
Sau tháng giêng, mỗi tháng tiến thêm một bậc ở cả can và chi.
Ví dụ với năm Ất Tỵ: tháng giêng là Mậu Dần, tháng hai là Kỷ Mão, tháng ba là Canh Thìn, tháng tư là Tân Tỵ, tháng năm là Nhâm Ngọ, tháng sáu là Quý Mùi, tháng bảy là Giáp Thân, tháng tám là Ất Dậu, tháng chín là Bính Tuất, tháng mười là Đinh Hợi, tháng mười một là Mậu Tý, tháng chạp là Kỷ Sửu.
Hai điều cần biết. Thứ nhất, cũng có cách tính lấy tiết khí làm mốc, theo đó tháng Dần bắt đầu từ tiết Lập Xuân chứ không phải từ mùng 1 tháng giêng, nên hai cách có thể lệch nhau vài ngày quanh tiết. Thứ hai, với tháng nhuận, các nguồn lịch không ghi hoàn toàn giống nhau; nhiều lịch ghi tháng nhuận trùng can chi với tháng liền trước. Nếu bạn cần con số chính xác cho một việc cụ thể, hãy thống nhất theo cuốn lịch hoặc nguồn mà bạn đang dùng.
Can chi của ngày
Ngày can chi chạy theo một vòng 60 ngày liên tục, không đứt quãng và không phụ thuộc vào tháng hay năm âm lịch. Hết 60 ngày thì quay lại đúng chuỗi cũ.
Vì vậy cách tính là: chọn một ngày mốc đã biết can chi, đếm xem ngày cần tìm cách ngày mốc bao nhiêu ngày, lấy số ngày đó chia lấy dư cho 60, rồi cộng vào vị trí của ngày mốc trong vòng 60. Các công cụ tra cứu cũng làm đúng phép đếm này, chỉ khác là máy đếm nhanh và ít nhầm hơn.
Ví dụ giả định: bạn có một ngày mốc M là ngày Giáp Tý, tức vị trí 0 trong vòng 60. Muốn biết can chi của ngày cách M đúng 100 ngày:
- 100 chia 60 dư 40
- Vị trí 40 trong vòng: can là 40 chia 10 dư 0, tức Giáp; chi là 40 chia 12 dư 4, tức Thìn
- Kết quả: ngày đó là Giáp Thìn
Có hai mốc bạn nên thống nhất trước khi đếm. Một là múi giờ: lịch Việt Nam tính theo giờ Việt Nam, nên những ngày sát nửa đêm có thể lệch một ngày so với lịch ở nơi khác. Hai là thời điểm bắt đầu một ngày: có quan niệm lấy 0 giờ, cũng có quan niệm lấy 23 giờ, tức đầu giờ Tý, làm mốc sang ngày mới. Chọn cách nào cũng được, nhưng phải cố định, nếu không kết quả sẽ nhảy.
Can chi giờ: công cụ trên trang không trả về, bạn phải tự tính
12 giờ trong ngày cũng mang tên 12 Địa chi, mỗi giờ hai tiếng: giờ Tý từ 23 giờ đến 1 giờ, giờ Sửu từ 1 đến 3 giờ, giờ Dần từ 3 đến 5 giờ, và cứ thế đến giờ Hợi từ 21 đến 23 giờ.
Can của giờ suy ra từ can của ngày theo quy tắc thường gọi là ngũ thử độn:
- Ngày Giáp hoặc Kỷ: giờ Tý là Giáp Tý
- Ngày Ất hoặc Canh: giờ Tý là Bính Tý
- Ngày Bính hoặc Tân: giờ Tý là Mậu Tý
- Ngày Đinh hoặc Nhâm: giờ Tý là Canh Tý
- Ngày Mậu hoặc Quý: giờ Tý là Nhâm Tý
Từ giờ Tý, các giờ sau tiến thêm một bậc ở cả can và chi.
Cần nói rõ: khi đổi từ dương lịch sang âm lịch, công cụ trên trang trả về ngày âm lịch, tháng nhuận nếu có, can chi năm, can chi tháng và can chi ngày. Can chi tháng ở đây tính theo tháng âm lịch (ngũ hổ độn), không theo tiết khí; tháng nhuận được ghi trùng can chi với tháng liền trước. Can chi giờ không nằm trong kết quả. Muốn có, bạn lấy can chi ngày mà công cụ đưa ra rồi áp quy tắc ngũ thử độn như trên.
Tra nhanh bằng công cụ và mấy chỗ dễ sai
Với những việc thường ngày — xem ngày âm lịch, biết tháng nhuận nằm ở đâu, biết can chi năm, tháng và ngày của một ngày dương lịch — bạn chỉ cần nhập ngày vào công cụ đổi lịch âm dương trên trang. Công cụ tính theo giờ Việt Nam và làm sẵn phần đếm ngày, vốn là phần phiền nhất khi tính tay.
Còn khi cần can chi giờ, hoặc can chi tháng tính theo tiết khí, hãy làm thêm một bước bằng tay theo các quy tắc ở trên, và kiểm tra ba điểm sau:
- Năm can chi đã đúng chưa, nhất là với ngày rơi vào khoảng trước Tết Nguyên đán, vì lúc đó năm dương và năm âm lệch nhau.
- Tháng bạn đang xét có phải tháng nhuận không, và nguồn lịch bạn theo ghi tháng nhuận thế nào.
- Mốc bắt đầu ngày mà bạn chọn, 0 giờ hay 23 giờ, đã được áp dụng nhất quán chưa.
Can chi là quy ước lịch pháp, dùng để ghi ngày tháng theo cách của người xưa, chứ không phải một phép đo khoa học. Các quy tắc trên đủ để bạn tự tính và kiểm tra chéo lẫn nhau. Nếu kết quả can chi ảnh hưởng đến một việc quan trọng của bạn, nên đối chiếu thêm với cuốn lịch hoặc nguồn mà bạn tin.
Tự tính với con số của bạn: Đổi lịch âm dương.